Huấn lịnh của Đức Di Lạc:

“Hãy làm ra một quyển sách nhỏ đẹp đẽ để giới thiệu … cho thế gian” .

Theo “Giảng lý quyển Dưới chân Thầy”

A. Besant & B. Leadbeater

TIỂU SỬ CỦA QUYỂN SÁCH NHỎ NÀY

Xin tường thuật giản dị trong hoàn cảnh nào mà quyển sách nhỏ Học Đạo: “DƯỚI CHÂN ĐỨC THẦY” này được viết ra.

Vâng lệnh Tôn Sư, mỗi đêm tôi (Leadbeater) [1] phải xuất vía (xuất hồn) dẫn Krishnamurti (tác giả quyển sách này) đến Đức Thánh Sư Kuthumi (Đại Tiên) để nghe Ngài dạy Đạo. Mỗi lần Đức Thầy chỉ dạy lối 15 phút; thôi dạy rồi, Đức Thầy luôn luôn tóm tắt những điều quan trọng mà Ngài đã giải nghĩa bằng một hoặc nhiều câu, để cho Krishnamurti học thuộc lòng. Sớm mai hôm sau Krishnamurti phải nhớ lại để viết ra.

Quyển Học Đạo “DƯỚI CHÂN ĐỨC THẦY” gồm toàn những lời dạy vắn tắt của Đức Thầy, những danh từ trong ấy cũng tự Ngài đặt ra.

Krishnamurti chép lại, có hơi khó khăn, những lời Đức Thầy dạy, vì lúc ấy y còn dở tiếng Anh. Nhưng vì đã thuộc lòng những bài dạy của Đức Thầy, nên Krishnamurti ít lo âu về số phận của những lời dẫn giải mà chàng chép ra.

Nhưng sau đó ít lâu, khi Krishnamurti đi với Bà Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học (Bà Annie Besant) đến thành Ba-La-Nại (Bérarès), chàng gởi thơ về cho tôi (Leadbeater) ở Adyar, yêu cầu tôi gom góp gởi cho chàng các giấy tờ trong ấy có chép những lời của Đức Thầy giảng dạy chàng lúc trước.

Tôi xếp đặt kỹ càng những giấy tờ đó rồi đánh máy lại.

Tôi bèn đem bổn đánh máy lên Đức Thầy Kuthumi [2]  và cầu xin Ngài vui lòng xem lại. Đức Thầy đọc, sửa đổi hai tiếng, thêm vài chữ để đọc cho xuôi câu hoặc giải nghĩa và sửa vài câu khác mà tôi có nghe Ngài đọc lên. Rồi Ngài nói:

“Được, như vậy là đúng và cho ra được”. Rồi Ngài thêm: “Dầu vậy, chúng ta cũng phải đi lên trình cho Đức Chưởng Giáo (tức là Đức Di Lạc Bồ Tát) xem lại”. Đức Thầy Kuthumi cùng tôi đồng xuất hồn đi, đem giấy tờ đến Đức Di Lạc Bồ Tát. Ngài xem và rất hài lòng. Rồi chính Ngài nói: “Hai ông phải làm ra một quyển sách nhỏ, đẹp, để giới thiệu Alcyone cho thế gian.” (Alcyone là tên riêng của Krishnamurti).

Chúng tôi (Đức Thầy Kuthumi và Đức Leadbeater) không nghĩ đến sự giới thiệu Alcyone cho đời biết. Chúng tôi tưởng không nên để nhiều luồng tư tưởng tập trung vào Krishnamurti , một đứa nhỏ mới 13 tuổi, mà giáo dục và đức dục còn phải bồi bổ thêm. Nhưng trong giới huyền bí, chúng tôi phải tuân theo mạng lệnh của Bề Trên. Cho nên, quyển sách nhỏ này, ngay sớm hôm sau, phải đem giao cho nhà in liền.

Những sự rắc rối mà chúng tôi đã tiên liệu, khi cho quyển sách này ra sớm, đã xảy ra. Nhưng mà, chung cuộc, Đức Bồ Tát nói rất đúng, còn chúng tôi lại sai lầm, bởi vì sự ích lợi mà quyển sách nhỏ này đem lại cho đời còn to tát hơn trăm ngàn lần sự phiền lụy mà chúng tôi phải chịu vì nó. Thật thế, có cả muôn người cho chúng tôi hay rằng: đời của họ được thay đổi rất lành và họ thấy thế sự khác hẳn, sau khi đọc quyển sách nhỏ này. Sách này được dịch ra 27 thứ tiếng và in đi in lại, 40 lần. Đã có trên một trăm ngàn quyển in xong rồi. [3]

[1] Đức Leadbeater là người Anh, tu hành theo Cơ Đốc Giáo đến chức giám mục . Về sau qua Ấn Độ  tầm sư học Đạo, Ngài xin gia nhập vào hội Thông Thiên học và được Đức Thầy Kuthumi , một đấng trọn lành thâu nhận làm đệ tử , dạy Ngài phương pháp tu hành và chỉ Ngài luyện Đạo để mở Huệ nhãn biết được  quá khứ vị lai và xuất vía (xuất hồn) đi giao du trong các cảnh giới vô hình . Tu hành theo phương pháp Đức Thầy chỉ dạy , Đức Leadbeater đắc quả La hán.

[2] Đem bản đánh máy lên Đức Thầy Kuthumi bằng cách xuất Vía ( xuất hồn) vì Đức Thầy ngự tại Hy Mã Lạp Sơn , khó đến đó bằng đường bộ được. Xuất hồn đem bản đánh máy đi có thể giống như một hồn ma dời đồ đạc như đèn , bình bông từ chổ này sang chổ nọ vậy . ( lời dịch giả)

[3] Quyển học Đạo “DƯỚI CHÂN THẦY” in xong năm 1911 mà đã được in cả trăm ngàn quyển và được dịch ra 27 thứ tiếng , đến nay 1969 có thể , khắp hoàn cầu đã in hằng hà sa số và có thể đã được dịch ra hơn 27 thứ tiếng , riêng phần nước Việt Nam đã in hơn 100 000 quyển rồi .

Advertisements

Nguyên Tác:    AT THE FEET OF THE MASTER

Tác Giả :          ALCYONE (KRISHNAMURTI)

Tủ Sách Thông Thiên Học

Dựa theo ấn bản thứ mười hai của ông BẠCH LIÊN

XIN DÂNG CHO NHỮNG NGƯỜI TẦM ÐẠO :

Xin dắt tôi từ cõi giả đến cõi CHƠN,

Xin dắt tôi từ chỗ tối tăm đến nơi SÁNG SUỐT,

Xin dắt tôi từ cửa tử đến cõi TRƯỜNG SANH BẤT TỬ.

Annie Bessant

 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU

 

Tôi được cái đặc quyền như người chị cả, viết vài lời giới thiệu quyển sách nhỏ bé này, quyển sách đầu tiên của một đứa em còn ít tuổi; thật ra, xác phàm của em còn nhỏ chớ linh hồn em không nhỏ. Những lời giáo huấn trong đó vốn của Thầy em chỉ bảo trong khi Ngài huấn luyện cho em được Điểm Đạo. Em viết thuộc lòng mấy lời này song chậm chạp và khó khăn bởi vì năm ngoái em học tiếng Anh chưa được giỏi như bây giờ [1]. Phần lớn cuốn này vốn lập lại y nguyên lời của Thầy em đã nói, còn câu nào không phải nguyên văn lời của Ngài thì cũng là tư tưởng của Ngài được em viết lại. Có hai câu bỏ sót, Ngài đã điền vào. Trong hai chỗ khác em quên một chữ, Ngài cũng đã thêm vô. Ngoài những điều ấy ra, tác phẩm này hoàn toàn là của Alcyone [2], ấy là món quà đầu tiền em cống hiến cho đời . 
Cầu xin tác phẩm này giúp ích cho kẻ khác cũng như lời khẩu truyền đã giúp ích cho Alcyone vậy. Bởi Alcyone cũng mong mỏi như thế cho nên em mới đem truyền lại cho chúng ta. Những lời giáo huấn này có hiệu quả chỉ khi nào người ta ăn ở y như Alcyone vậy, một lòng nghe theo lời huấn thị của Ngài. Nếu bắt chước gương nầy cùng theo những giới luật tức thì Cửa Ðạo mở rộng, đọc giả sẽ bước vào đó cũng như tác giả đã bước vô rồi vậy
 

Tháng 12, 1910  ANNIE BESANT

(Lời nói đầu ở trên được viết khi ông Krishnamurti lên 15 tuổi và sống dưới sự giám hộ của bà Annie Besant. Lời Nhà Xuất bản Anh Văn).
 

Kính tặng cho những ai gõ cửa.
                                                 

LỜI TỰA

Mấy lời nầy chẳng phải của tôi, ấy là lời của Sư Phụ tôi đã dạy tôi. Không có Ngài tôi không làm được gì cả; nhờ Ngài giúp tôi mới được bước vào Ðường Ðạo. Anh cũng vậy, anh muốn bước vào Ðường Ðạo, thì những lời Sư Phụ tôi sẽ hữu ích cho anh, nếu anh tuân theo những lời giáo huấn ấy. Nói rằng những lời đó chơn chánh và tốt đẹp thì chưa phải là đủ; người nào muốn thành công, phải ăn ở y như lời chỉ giáo. Một người kia bụng đói xép ve dòm một món đồ ăn rồi nói ngon quá thì có ích chi cho y đâu; người ấy phải thò tay lấy ăn. Cũng thế, nghe lời Thầy dạy chưa phải là đủ; phải làm những điều Ngài nói, chăm chỉ từng tiếng, từng dấu. Nếu mà không chú ý đến một dấu và bỏ qua một tiếng, thì dấu đó và tiếng đó mất biệt rồi; bởi vì Chơn Sư không nói hai lần.

Muốn bước vào Đường Đạo phải có bốn điều kiện sau:

– Một là :      PHÂN BIỆN                  (Discrimination)

– Hai là :      DỨT BỎ (Đoạn tuyệt)  (Desirelessness)

– Ba là :       HẠNH KIỂM TỐT          (Good Conduct )

– Bốn là :     LÒNG TỪ ÁI                 (Love)

Tôi sẽ cố gắng nói cho anh nghe những lời Sư Phụ tôi dạy tôi về mỗi điều kiện ấy.

 

 

THIÊN THỨ NHỨT

TÁNH PHÂN BIỆN

Tánh phân biện chia ra làm năm khoản như sau đây:

1- Những mục đích thật

2- Cách sanh hoạt của ba thể : xác, vía trí

3- Ðiều lành và điều dữ

4- Phải hết sức ngay thật

5- Tình bác ái và Thiên mạng (sự sống thiêng liêng)
 

I.- Những mục đích thật. 

 Đứng đầu trong bốn điều kiện là tánh Phân biện. Thường thường người ta hiểu nghĩa phân biện đây là phân biện sự chơn và sự giả nó dắt con người vào Ðường Ðạo. Hiểu như thế thật đúng, nhưng mà còn nhiều hơn thế nữa; và phải thực hành phân biện, không những khi mới bước vào đường Ðạo, mà luôn mỗi ngày mỗi bước đi cho tới lúc đắc đạo thành chánh quả. Con bước vào Ðường Ðạo bởi vì con biết rằng duy trong đó mới có những việc đáng thâu lãnh mà thôi. Những người chưa hiểu biết làm lụng đặng trở nên giàu sang và có quyền thế, nhưng hai cái tước lộc nầy dùng được lâu lắm bất quá là một đời mà thôi, bởi thế chúng nó là mộng ảo. Có nhiều việc lớn lao đáng tìm lấy hơn sự giàu sang và quyền thế – mấy việc ấy chơn thật và không hề hư hoại; một khi người ta thấy rồi, không còn muốn điều gì khác nữa.

 Trên thế gian nầy chỉ có hai hạng người : những người hiểu biết và những người không hiểu biết; duy chỉ có sự hiểu biết mới là hệ trọng mà thôi.Con người giữ Đạo nào hay thuộc về giống dân nào là những việc không trọng hệ. Điều thật trọng hệ là sự hiểu biết đó, sự hiểu biết Cơ Trời đối với con người. Bởi vì Trời có một Cơ, mà Cơ đó là sự tiến hóa. Chừng nào con người thấu rõ được Thiên Cơ (God’s plan) và khi thật biết rồi, thì con người chỉ lo hiệp tác với Thiên Cơ, đồng hóa với Thiên Cơ và giúp cho Thiên Cơ được thực hiện. Đó là sự vinh diệu và sự tốt đẹp của con người. Ấy vậy, bởi con người hiểu biết rồi nên mới thuận theo lẽ Trời [1a], khắn khắn một lòng làm lành và chống chỏi với sự ác, lo giúp cho muôn loài vạn vật tiến hóa chứ không vì tư lợi.

Người mà thuận theo lẽ Trời tức là người một nhà với chúng ta, dầu y nói y giữ đạo Bà la môn hay giữ đạo Phật, giữ đạo Thiên Chúa Giáo hay giữ đạo Hồi, hoặc y nói y là người Ấn Độ hay là người Anh, người Trung Quốc hay là người Nga thì cũng không thành vấn đề. Những người nào thuận theo lẽ Trời thì biết rằng tại sao mình thuận theo vậy. Họ biết bổn phận mình phải làm cái chi và cố gắng hoàn thành công việc đó. Còn những người khác không thuận lẽ trời không biết mình phải làm điều chi, cho nên họ thường hành động như những kẻ ngông cuồng. Họ cố tạo ra những đường lối cho chính họ mà họ tưởng rằng chúng nó sẽ làm cho họ được hài lòng chớ không biết rằng “vạn vật đồng nhất thể”, và vì lẽ đó, chỉ ý Trời mới làm cho mọi người được thực sự đẹp lòng. Họ đeo đuổi theo sự mộng ảo chớ không phải sự chơn thật và nếu ngày nào mà họ không học cách phân biệt hai việc ấy thì ngày đó họ chưa thuận theo lẽ Trời. Bởi vậy sự Phân Biện là bước đầu tiên.

Nhưng dẫu khi chọn lựa rồi đi nữa, con cũng phải nhớ rằng sự chơn và sự giả có nhiều loại khác nhau; và con phải biết phân biệt cái lành với cái dữ, cái trọng hệ với cái không trọng hệ, cái hữu ích với cái vô ích, cái thực với cái hư, cái ích kỷ với cái vô tư lợi.
 

II.- Cách sinh hoạt của ba thể  

 Một bên lành, một bên dữ, có khó chi trong sự chọn lựa, bởi vì những người nào muốn theo Chơn Sư thì đã nhứt định làm lành, dẫu thế nào cũng vậy. Tuy nhiên, con người và xác phàm của nó là hai cái khác nhau; và ý chí của con người luôn luôn không phải là những gì xác phàm ham muốn. Khi xác phàm của con muốn cái chi, con hãy ngừng lại và suy nghĩ coi có phải thật là Con muốn cái đó chăng? Bởi vì Con là Thượng-Đế, và con chỉ muốn điều nào Thượng Đế muốn; nhưng con phải xét thấu trong cõi lòng con (hồi quang phản chiếu) đặng tìm Đức Thượng Đế và nghe lời của Ngài, lời của Ngài tức là lời của con vậy. Ðừng nhầm lẫn các thể của con là con. Cái xác phàm của con, cái vía của con, cái trí của con không phải là thật con đâu. Nhưng mỗi thể đó đều giả vờ xưng là con để đạt được những điều nó muốn. Con phải hiểu chúng nó hết và con phải tự biết rằng chính con là chủ của chúng nó.

Khi có một việc phải làm, cái xác phàm lại viện lẽ nó cần nghỉ ngơi, đi chơi, ăn uống; người chưa hiểu biết nói trong lòng rằng “Tôi cần làm mấy việc đó nên tôi phải làm mới được”. Còn người hiểu biết nói: “Cái xác của tôi muốn mấy việc đó chớ không phải tôi đâu, nó phải đợi mới đặng”. Thường khi có dịp phải giúp đỡ ai, xác phàm nghĩ như vầy: ” Việc đó sẽ phiền mình lắm!; để cho người khác làm đi”. Nhưng con người trả lời với xác phàm như vầy: “Ngươi không nên cản ta làm những việc tốt lành “.

Thân xác con vốn là con thú của con, con ngựa của con cỡi. Bởi thế, con phải đối đãi với nó cho tử tế và phải săn sóc nó kỹ lưỡng. Đừng bắt nó làm việc quá sức, phải nuôi nó cho đúng phép với những đồ ăn, thức uống tinh khiết và giữ gìn cho nó luôn thật sạch sẽ, đừng dung dưỡng một mảy bợn nhơ. Bởi vì không có một xác thân tinh khiết và tráng kiện, thì không thể nào con lo nổi công việc chuẩn bị khó khăn đặng bước vào đường Đạo, con không chịu nổi những sự rán sức không ngừng đâu. Vậy phải chính là con, người luôn luôn điều khiển, kiểm soát Thể xác đó chứ không phải là Thể xác đó điều khiển, sai khiến con.

Cái Vía của con có nhiều sự ước ao, – lên đến hàng tá; nó muốn thấy con nổi giận, nghe con ăn nói gắt gỏng, nó muốn thấy con ganh gỗ, tham lam tiền bạc, toan đoạt của cải thiên hạ và ngã lòng rủn chí. Nó muốn mấy điều đó và còn nhiều việc khác nữa, không phải nó có ý hại con, song tại nó ưa những sự rung động dữ dội và thay đổi liền liền. Trong mấy việc đó con không muốn việc nào cả, bởi vậy con phải phân biệt ý muốn của con với ý muốn của cái vía.

Cái Trí của con ưa thói kiêu căng chia rẽ, nghĩ nhiều về nó, và ít ngó ngàng gì đến kẻ khác. Dù khi con hướng trí con ra khỏi những việc trần gian được rồi, nó còn rán gom hết về cho bản ngã của con, nó giục con chú ý tới sự tiến hóa riêng của con, chớ không lo nghĩ đến công việc của Chơn Sư và giúp đỡ kẻ khác. Khi con thiền định nó cố ra sức làm cho con nghĩ đến những chuyện lung tung khác mà cái trí nó muốn, thay vì chuyện duy nhất mà con muốn. Con không phải là cái trí đó đâu, nhưng nó vẫn là một thể của con để cho con xử dụng, vậy một lần nữa, nơi đây sự phân biện cũng cần thiết. Con phải giữ chừng liên tục, bằng không con sẽ thất bại.
 

III.- Điều lành và điều dữ.  

 Huyền bí học (Occultism) không hề công nhận có sự thỏa hiệp giữa việc lành và việc dữ. Dầu thế nào cũng phải làm việc lành, con không nên làm việc ác, để mặc tình người không biết nói cái chi hay tưởng cái chi cũng được. Phải học hỏi cho rộng sâu những luật Trời còn ẩn tàng, và chừng biết rồi, con sắp đặt cuộc đời của con phù hợp với những luật đó, bằng cách luôn dùng đến lý trí và lương tri.

Phải phân biện việc trọng hệ với việc không trọng hệ. Đối với sự lành và sự dữ thì lòng con phải cứng như đá, còn những việc ít trọng hệ con luôn nhường cho kẻ khác. Bởi vì con phải ở cho dễ thương, tử tế, biết xét nét và thuận hòa, và để cho thiên hạ có đầy quyền tự do bằng quyền tự do mà con yêu cầu cho chính con vậy.

Hãy tìm kiếm coi việc nào đáng làm; và con phải nhớ rằng không nên coi theo giá trị bề ngoài của sự việc mà xét đoán chúng nó. Thà làm một chuyện nhỏ mọn mà hữu ích liền cho công việc của Chơn sư còn hay hơn làm một việc lớn lao mà thế gian gọi là tốt. Chẳng phải phân biệt cái nào hữu ích với cái nào vô ích là đủ, mà con còn phải phân biệt cái nào có ích nhiều với cái nào có ích ít. Nuôi kẻ nghèo là một việc tốt, cao quí và hữu ích; nhưng mà nuôi linh hồn mấy người đó lại còn cao quí và hữu ích hơn nữa. Người nào giàu cũng nuôi được thân xác, mà duy chỉ người hiểu biết mới nuôi được linh hồn. Nếu con hiểu biết rồi, bổn phận của con là phải giúp kẻ khác giác ngộ.

Nhưng dầu con đã khôn ngoan thế mấy đi nữa, con còn phải học hỏi nhiều trên Ðường Ðạo; nhiều đến nỗi ở đây con cũng phải dùng đến sự phân biện. Vậy con phải phân biện và chọn lựa cho thật kỹ càng cái nào đáng ra công học hỏi. Sự hiểu biết nào cũng hữu ích, và một ngày kia con sẽ biết đủ hết mọi việc; nhưng khi con biết có một phần, con phải gìn giữ làm sao cho phần đó hữu ích hơn hết. Đức Thượng Ðế vốn Minh triết và cũng là Từ ái vô biên; và hễ con được minh triết nhiều chừng nào thì con càng biểu lộ được Ngài nhiều chừng nấy. Vậy con phải học hỏi, nhưng trước hết con phải học hỏi điều nào sẽ giúp cho con nhiều nhất để con giúp đỡ người khác. Phải bền lòng chăm chú vào sự học hỏi của con, không phải đặng cho kẻ khác tưởng con là khôn ngoan, mà cũng không phải ý muốn được hưởng hạnh phúc của sự khôn ngoan, nhưng bởi người khôn ngoan mới có thể giúp đời một cách khôn ngoan. Dầu con mong ước giúp đời thế mấy đi nữa, nếu con dốt nát thì con sẽ làm hại nhiều hơn là làm lợi.
 

IV.- Phải hết sức ngay thật.  

 Con phải biết phân biệt giữa cái chơn và cái giả; con phải tập làm sao cho hết sức chơn chánh trong mọi việc, từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.

Thứ nhứt là trong tư tưỏng. Cái nầy không phải dễ đâu, vì trong đời có biết bao nhiêu tư tưởng lầm lạc, biết bao nhiêu điều mê tín dị đoan phi lý, hễ ngưòi nào để cho chúng nó chi phối thì không bao giờ tiến bộ được. Bởi vậy con chẳng nên cho một tư tưởng nào là chơn chánh bởi nhiều người đã cho nó là chơn chánh, hay là tại thiên hạ đã tin nó mấy thời đại rồi, hoặc là thấy nó ghi ở trong một quyển sách thuộc về loại sách Thánh; con phải tự mình suy nghĩ và con phải tự phán đoán xem tư tưởng đó có hữu lý hay không. Con hãy nhớ rằng dầu cho có cả ngàn người đồng công nhận một việc kia đi nữa, nếu họ không biết cái chi trong đó hết thì ý kiến của họ vẫn vô giá trị. Người nào muốn bước trên Ðường Ðạo phải tập tự mình tư tưởng, bởi vì thói mê tín dị đoan là một trong những tội lỗi lớn nhất trên thế gian, một trong những chướng ngại con phải tự hoàn toàn giải thoát mới được.

Ðiều nào con suy nghĩ cho thiên hạ cũng phải trung thực. Con không được nghĩ cho kẻ khác điều nào mà con không biết rõ. Con đừng tưởng rằng thiên hạ hằng luôn nghĩ về con. Nếu một người kia làm một việc gì mà con ngỡ là có hại cho con hay là nói một chuyện nào dường như có can hệ tới con, chớ vội nghĩ ngay rằng: “Người đó có ý làm tổn thương tôi”. Có lẽ hầu như người đó không tưởng đến con chút nào, bởi vì mỗi linh hồn đều có những việc lo riêng của nó và những tư tưởng của linh hồn cũng chỉ tập trung dồn vào bản thân nó mà thôi . Nếu có một người nào nói giọng quạo quọ, con chớ nói rằng: “Người đó ghét tôi và muốn lăng nhục tôi”. Có lẽ tại một người nào hay là một việc chi đó làm cho y nổi giận, và vì người ấy tình cờ gặp con nên trút hết cơn giận lên đầu con cho đã giận. Người đó làm chuyện điên cuồng, bởi vì tất cả những sự nổi giận đều là sự điên cuồng, nhưng không phải vì cớ đó mà con nghĩ sai quấy về người ấy.

Chừng nào con làm đệ tử của Chơn Sư rồi, con luôn có thể thử xem tư tưởng của con chơn chánh hay không bằng cách để nó kế bên tư tưởng của Ngài. Bởi vì Thầy với trò vẫn “hiệp nhứt”, miễn trò đem tư tưởng mình kề với tư tưởng của Thầy thì sẽ thấy ngay hai tư tưởng có phù hợp với nhau hay không. Nếu không, thì tư tưởng của trò đã sai lầm, người đệ tử phải thay đổi lập tức, vì tư tưởng của Chơn Sư vốn trọn lành, bởi Ngài thông hiểu hết mọi việc. Những người nào chưa được Ngài thâu nhận làm đệ tử chánh thức [3] thì không thể làm như vậy; nhưng họ có thể tự giúp mình thật nhiều nếu họ thường ngừng lại tự hỏi như vầy: “Thầy sẽ nghĩ việc nầy làm sao? Gặp trường hợp nầy Thầy sẽ nói hay sẽ làm thế nào ?”. Bởi vì không nên làm, nói hay nghĩ điều nào theo ý mình, mà Thầy không làm, không nói hay không nghĩ như thế”.

Lời nói của con cũng phải cho ngay thật nữa, – chính xác và không quá lố (phóng đại). Ðừng bao giờ gán nguyên do nào cho người khác, duy có một mình Thầy y biết tư tưởng y mà thôi. Không biết chừng y làm như vậy là tại duyên cớ gì đó mà con không bao giờ rõ được. Khi con nghe một câu chuyện có hại cho người nào đó, thì đừng lập lại nó; có thể câu chuyện đó không có thật, mà dầu có thật đi nữa, đừng nói đến mới là nhơn từ hơn. Trước khi nói, con phải suy nghĩ cho kỹ lưỡng, vì e rằng con sẽ mắc vào cái lỗi không được chính xác.

Phải thành thật trong việc làm; đừng bao giờ kiếm thế khoe khoang điều nào mà con không có, vì tất cả sự giả trá đều là một tấm màn ngăn cản ánh tinh quang của chơn lý chiếu xuyên qua lòng con như ngăn cản ánh sáng mặt trời rọi ngang qua tấm kiếng trong trẻo vậy.
 

V.- Tình bác ái và sự sống thiêng liêng. 

 Con phải phân biện điều nào ích kỷ với điều nào không ích kỷ. Bởi vì sự ích kỷ có nhiều hình trạng lắm, và khi con nghĩ con trừ được tật ích kỷ trong một hình trạng nào rồi thì nó lại nảy sanh ra trong một hình trạng khác mạnh bạo như trước vậy. Nhưng lần lần sự lo giúp đỡ kẻ khác sẽ choán cả lòng con cho đến đỗi trong trí con không còn chỗ nào và giờ phút nào nghĩ tới con nữa.

Con còn phải phân biện một cách khác nữa. Phải học phân biệt Ðức Thượng Ðế trong mọi người, mọi vật, dầu cho vẻ bề ngoài người ấy hay vật ấy có tồi tệ, xấu xa đến đâu chăng nữa, thì Thượng Ðế vẫn ẩn tàng trong đó. Con có thể giúp huynh đệ của con là nhờ con với họ trong lòng đều có cái chung, đó là Sự Sống Thiêng Liêng. Con hãy học cách làm thế nào thức tỉnh Sự Sống đó trong người của họ và con hãy học cách làm thế nào khơi gọi Sự Sống đó trong người của họ. Như vậy con sẽ cứu huynh đệ con ra khỏi điều sai lầm.

THIÊN THỨ NHÌ

TÁNH DỨT BỎ 
Tánh dứt bỏ hay đoạn tuyệt chia làm năm khoản :
Một là :    Dứt tuyệt sự ham muốn
Hai là :     Duy có một điều ham muốn tốt hơn hết
Ba là :      Những phép thần thông
Bốn là :    Những sự ham muốn nhỏ nhen
Năm là :   Hãy lo lắng việc nào có can hệ tới con
 

 

I.- Dứt tuyệt sự ham muốn

 Đối với nhiều người thì điều kiện Dứt bỏ là một điều kiện khó tập được, bởi vì mấy người đó nghĩ rằng họ là những điều ham muốn ấy và nếu những điều ham muốn riêng tư, những thiện cảm và những bất thiện cảm của họ bị tước đi hết rồi thì bản ngã họ không còn chi. Nhưng mấy người đó chưa gặp được Chơn sư, nếu một khi đứng trước Thánh Dung, ở trong hào quang của Ngài thì mọi ham muốn đều tan mất hết, trừ ra muốn sao được như Ngài. Nhưng trước khi có được diễm phúc đối diện với Ngài, nếu con thật chí quyết thì con có thể đạt được điều kiện dứt bỏ này. Tánh phân biện đã dạy rằng những chuyện mà phần đông con người tham muốn quá lẽ như là của cải, quyền thế thì không đáng nhọc công thọ lãnh chút nào. Song khi thật hiểu tại làm sao vậy – chớ không phải nói suông mà thôi – thì hết ước ao mấy điều ấy nữa.
 

II.- Duy có một điều ham muốn tốt hơn hết.

 

 Tới đây cả thảy đều dễ, miễn con hiểu là đủ. Nhưng có một số người không chịu đeo đuổi những mục đích trần tục mà chỉ cốt mong được về nước Thiên đàng, hay đặng riêng mình thoát khỏi đọa Luân hồi. Con đừng phạm lỗi đó. Nếu con thật quên mình rồi, con đâu còn nhớ hỏi lấy chừng nào linh hồn con mới được giải thoát, hay là nữa rồi đây nó sẽ về ở cảnh Trời nào. Con hãy nhớ rằng mỗi việc ham muốn ích kỷ dầu mục đích cao cả thế mấy đi nữa cũng đều trói buộc (là một sợi dây xiềng xích), và ngày nào con không loại hết các điều ham muốn này thì ngày đó con chưa thật rảnh rang để hiến mình cho công việc của Chơn Sư.

 Khi những ham muốn thuộc phàm nhơn con tiêu mất rồi, cũng có thể còn một sự ham muốn là thấy đặng kết quả của công việc con làm. Nếu con giúp ai, con muốn biết con giúp người đó tới bực nào; có lẽ con cũng muốn cho người ấy hiểu con đã giúp họ tới cở nào và biết ơn con nữa. Mà cái nầy vẫn là một điều ham muốn, và cũng gọi là chẳng có lòng tin cậy. Khi con ra sức giúp, đương nhiên phải có kết quả, dẫu con thấy hay là không thấy cũng vậy. Nếu con thạo Luật Trời thì con biết rằng điều này phải như thế. Vậy thì con phải làm điều lành, bởi chưng ưa mến việc lành chớ chẳng phải trông mong được ban thưởng. Phải làm lụng vì chưng ưa mến sự làm lụng, chớ chẳng phải trông mong thấy cái kết quả. Con phải xả thân giúp đời vì con thương đời, và bởi con không làm thế nào khác nữa được.
 

III.- Những phép thần thông.

 

 Con đừng ham những phép thần thông. Con sẽ có chúng khi Chơn Sư thấy lúc nào là tốt nhất cho con. Hễ cưỡng bách luyện tập đặng mở mấy phép đó quá sớm thì thường mang vào mình đủ thứ phiền não . Người nào có những phép ấy thì hằng bị bọn tinh linh ngũ hành gạt gẫm, hay là trổ tánh khoe khoang và nghĩ rằng mình không lầm lạc. Dẫu thế nào, ngày giờ và sức lực tổn phí đặng luyện tập mấy phép đó nên để giúp đời còn hay hơn. Trong khi con mở mang những đức tánh tốt thì tự nhiên con sẽ có các phép ấy. Nhất định thế nào cũng có chúng. Nếu Chơn Sư thấy các phép ấy hữu ích cho con sớm một chút, thì Ngài chỉ cho con cách khai mở an toàn những phép thần thông ấy. Từ giờ cho đến lúc ấy tốt hơn con không nên có phép thần thông.
 

IV.- Những sự ham muốn nhỏ nhen.

 Con cũng phải giữ lòng đừng ham muốn những việc nhỏ mọn thường xảy ra trong đời sống hằng ngày. Chớ nên có ý khoe mình hay tỏ dấu thông minh. Ðừng ham nói, nói ít thì tốt, không nói chi lại càng tốt hơn nữa, trừ ra khi nào chắc chắn rằng những điều con muốn nói, chơn chánh, dễ thương và hữu ích. Trước khi nói con hãy tự hỏi coi điều con muốn nói ra có đủ ba đức tánh đó không; nếu không, thì con phải làm thinh.

Giờ đây, tốt hơn là tập thói quen suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi nói; bởi vì khi con được điểm đạo rồi, con phải giữ gìn từng lời nói vì e rằng con sẽ nói những gì không được nói . Đừng ham nói chuyện tầm phào, vô vị, không cần thiết; nếu kéo ra chuyện nói hành thiên hạ thì đó là điều ác độc, tội lỗi. Vậy thì con hãy tập cho quen tánh nghe hơn là nói; đừng nêu ý kiến trừ phi được hỏi trực tiếp. Có một câu gồm hết các đức tánh phải tập là: Tri, Cảm, Nguyện, Mặc. (nghĩa là : phải hiểu biết, phải có gan dạ, phải chí quyết và phải nín thinh – Savoir, oser, vouloir, se taire). Mà cái đức tánh chót là khó hơnhết.
 

V.- Hãy lo lắng việc nào có can hệ với mình.

 Còn một ham muốn thông thường khác mà con phải bài trừ một cách nghiêm khắc là xen vào chuyện thiên hạ. Cái điều nào người khác làm đặng, nói đặng hay tin đặng thì không ăn nhập chi với con; và con phải học thói quen để cho y tuyệt đối làm một mình. Y có toàn quyền tự do trong tư tưởng, lời nói và việc làm miễn là y đừng xen vào chuyện của người khác. Con đây cũng vậy, con yêu cầu có quyền tự do làm cái chi mà con nghĩ rằng đúng; vậy thì con cũng phải để cho kẻ khác được tự do như con vậy; và khi y dùng quyền tự do của y thì con không có quyền kích bác.

Nếu con tưởng rằng y làm quấy, và con có thể sắp xếp cơ hội để trình bày riêng với y một cách hết sức lịch sự vì cớ nào con không nghĩ như thế; thì có thể con thuyết phục được y; nhưng có nhiều trường hợp khi can thiệp như vậy cũng còn không phải cách nữa. Dầu thế nào con cũng đừng đem chuyện đó nói với người thứ ba, vì đó là một hành động cực kỳ ác độc.

Nếu con thấy ai đối xử hung ác với một đứa trẻ hay một con thú , bổn phận con phải là can thiệp. Nếu con thấy ai làm nghịch với luật pháp của quốc gia, con phải báo với nhà chức trách. Nếu con lãnh phần giáo hóa người nào, bổn phận con là phải chỉ cho y biết lỗi của y một cách êm ái. Trừ ra mấy lẽ nói trên đây, con phải để tâm vào công việc riêng của con và tập tánh làm thinh. 

 

THIÊN THỨ BA

 

HẠNH KIỂM TỐT

 

Chơn Sư kể sáu điểm đặc biệt thuộc về hạnh kiểm tốt buộc phải có như sau đây:

Một là :    Tự chủ trong khi tư tưởng

Hai là :     Tự chủ trong lúc hành động

Ba là :      Đức khoan dung

Bốn là :    An phận

Năm là :    Đi thẳng một đường tới mục đích

Sáu là :     Lòng tin cậy

 

(Tôi vẫn biết có chỗ dịch tên vài khoản tôi mới kể ra khác hơn tôi và cũng dịch khác các đức tánh buộc phải có nữa. Nhưng tôi luôn luôn lấy những tên mà Chơn Sư dùng trong lúc Ngài cắt nghĩa cho tôi nghe).
 

I.- Tự chủ trong khi tư tưởng.  

 Tánh dứt bỏ dạy rằng phải kiểm soát cái Vía, và vái Trí cũng phải được kiểm soát nữa. Ðiều nầy nghĩa là kiểm soát được tánh nóng nảy sao cho con không còn nổi giận hay nôn nóng; kiểm soát cái trí sao cho tư tưởng luôn được yên tịnh và không dao động; và cuối cùng qua cái trí, kiểm soát (trấn áp) những dây thần kinh đặng chúng ít bị kích thích, khó chịu chừng nào tốt chừng nấy. Ðiểm chót này khó làm được, bởi vì khi con cố gắng tập luyện để bước vào Ðường Ðạo thì thân xác con theo đó nhạy cảm hơn, do vậy, những dây thần kinh của con dễ dàng bị kích động bởi âm thanh hay sự va chạm mạnh và dễ bị căng thẳng vô cùng . Nhưng con phải rán hết sức mình thôi.

Cái Trí yên tịnh cũng có nghĩa là gan dạ để con có thể chống chỏi với những cách thử lòng và những sự khó khăn trên Ðường Ðạo mà không nao núng; cái trí yên tịnh cũng có nghĩa là bền lòng để con co 1thể sáng suốt giải quyết được những chuyện rắc rối đến trong đời sống và tránh sự lo lắng không ngớt những việc nhỏ mọn làm cho nhiều người mất gần hết ngày giờ. Chơn Sư dạy rằng: “Con người phải coi những việc ở ngoài xảy đến cho mình như sầu não, những chuyện rắc rối, bịnh tật cùng những chuyện mất mát không có quan trọng chi cả; phải coi chúng nó chẳng ra gì và đừng để cho chúng nó làm rối trí. Chúng nó là cái kết quả những việc làm hồi trước, chừng chúng nó đến thì phải vui lòng lãnh lấy. Con hãy nhớ rằng: mọi việc khổ não trên thế gian đều là tạm thời, bổn phận của con phải luôn luôn vui vẻ và giữ lòng thanh tịnh. Những việc đó thuộc kiếp trước của con chớ không phải kiếp nầy; con không thể sửa đổi cái gì đặng, bận lòng vì chúng nó rất vô ích. Tốt hơn là hãy nghĩ đến những việc con làm bây giờ đây, chúng nó định phần số con kiếp sau, và con có thể sửa đổi chúng nó được.

 Đừng buồn bực hay rủn chí. Rủn chí là sai lầm tệ hại, bởi vì nó truyền sang kẻ khác (làm họ nản chí theo) và làm cho đời sống của họ khó khăn hơn, con không được phép làm điều đó. Vì thế con phải xua đuổi nó đi ngay lập tức, mỗi lần con biết nó đến.

Con còn phải làm chủ tư tưởng con một cách khác nữa. Đừng để cho nó vẩn vơ. Bất kỳ con đang làm việc gì, con phải chú ý tập trung vào đó đặng làm cho được hoàn hảo. Chẳng nên để trí con ở không, con phải luôn có sẵn nhiều tư tưởng tốt đẹp ở trong trí đặng khi nào cái trí không bận việc gì thì con nhớ tới những tư tưởng ấy liền.

Mỗi ngày con hãy dùng quyền năng tư tưởng của con cho những mục đích tốt lành. Hãy tạo thành một lực lượng hướng về sự tiến hóa. Mỗi ngày con hãy nhớ đến một người nào mà con biết đương sầu muộn hay đau khổ hoặc là cần sự giúp đỡ; con hãy tuôn rải những tư tưởng yêu thương đến cho y.

Hãy kềm giữ cái trí con đừng kiêu căng, vì sự kiêu căng luôn luôn do sự dốt nát sanh ra. Người chưa hiểu biết nghĩ rằng mình vĩ đại, và làm được điều này điều kia lớn lao; người khôn ngoan biết rằng duy có một mình Trời là vĩ đại và việc lành nào cũng đều do Trời làm cả.
 

II.- Tự chủ trong lúc hành động.  

 Chừng nào tư tưởng của con ổn định rồi (hoặc dùng đứng đắn rồi), thì con hành động rất dễ dàng. Nhưng con hãy nhớ rằng muốn giúp đời, tư tưởng phải biến thành hành động. Không nên biếng nhác, phải cần mẫn làm việc hữu ích. Phải làm việc chi thuộc bổn phận của con chớ không phải thuộc về bổn phận của người khác, trừ ra khi nào có y cho phép và ý con muốn giúp đỡ y. Con hãy để cho mỗi người làm việc riêng của y theo ý y muốn. Nếu cần thì con hãy sẵn lòng giúp đỡ, nhưng đừng bao giờ xen vào việc thiên hạ. Ðối với nhiều người thì ở trên đời chuyện khó hơn hết là sự tập lo lắng công việc riêng của mình; nhưng đó chính là điều mà con phải làm.

Khi con cố gắng tập làm một việc cao thượng hơn thì con không nên vì cớ đó mà bỏ phế bổn phận thường ngày của con; nếu con làm mấy chuyện nầy không xong thì con đâu có rảnh rang để làm việc khác. Đối với đời thì con không nên nhận lãnh những nghĩa vụ nào mới cả; ngoại trừ những việc con đảm đương đây thì con phải làm cho hoàn tất. Thầy muốn nói những nghĩa vụ mà con biết rõ ràng và hữu lý chớ không phải những nghĩa vụ mơ hồ của người đời cố buộc con thi hành. Nếu con muốn một ngày kia là đệ tử của Chơn Sư thì phải làm những công việc thường ngày giỏi hơn mấy kẻ khác chớ không phải tệ hơn, bởi vì con làm việc đó cũng là nhơn danh Ngài.

III.- Đức khoan dung.

Con phải hết lòng khoan dung với mọi người và nhiệt thành quan tâm đến tín ngưỡng của những người thuộc về tôn giáo khác cũng nhiều như là con quan tâm đến tín ngưỡng của con vậy. Bởi vì tôn giáo của họ và tôn giáo của con đều là con đường đạo dẫn đến chỗ cao hơn (con đường dẫn đến Thượng Ðế). Muốn giúp đỡ tất cả mọi người thì con phải thông hiểu hết họ.

 Nhưng để đạt được lòng khoan dung hoàn toàn này thì trước nhất con phải tự giải thoát khỏi sự tin tưởng mù quáng và mê tín dị đoan. Con phải hiểu rằng chẳng có lễ bái nào cần thiết cả; bằng không thì con sẽ nghĩ rằng con giỏi hơn mấy người không hành lễ. Nhưng con cũng đừng chê trách những người nào còn ưa mến lễ bái. Hãy để họ muốn làm chi thì làm; chỉ có điều là họ không được cản trở con là người đã biết chơn lý rồi. Họ không được dùng cường lực ép buộc con làm điều gì mà con đã trải qua rồi. Trong mọi việc con phải khoan dung và tử tế.

Bây giờ tầm mắt con đã mở rộng, thì có vài điều tín ngưỡng, vài cách lễ bái của con hồi trước kia dường như phi lý lắm vậy. Có lẽ mấy việc đó phi lý thật. Song dẫu rằng bây giờ đây có thể con không còn tham dự vào mấy việc ấy nữa, con cũng phải kính trọng chúng, bởi vì những linh hồn tốt ấy vẫn coi chúng quan trọng lắm. Mấy cuộc lễ bái đó có chỗ dùng và ích lợi của nó. Chúng nó giống như những hàng đôi giúp con hồi còn nhỏ viết được đều và ngay thẳng cho tới chừng nào con viết giỏi hơn và dễ dàng rồi thì con không cần chúng nữa. Hồi trước có một lúc con cần chúng nó mà bây giờ đây thời kỳ đó đã qua rồi.

Một vị Ðại huấn Sư đã có lần viết như vầy: “Hồi tôi còn con nít, tôi nói theo thói con nít, tôi hiểu theo thói con nít, tôi nghĩ theo thói con nít; mà tới chừng tôi trở nên người lớn tôi bỏ hết các thói con nít“. Nhưng mà người nào quên lúc ấu xuân của mình và không có lòng thương cảm với con nít thì không thể nào dạy dỗ hoặc giúp đỡ chúng được. Vì vậy con hãy đối với mọi người cho tử tế, hiền hậu, độ lượng. Và coi ai nấy cũng như nhau, dầu họ là người Phật giáo hay là người Ấn Giáo, người Gianh (Hỏa thần giáo) [4] hay là người Do Thái giáo, người Thiên Chúa giáo hay người Hồi giáo cũng vậy.

IV.- An phận 

 Phải vui lòng trả quả của con, dầu nó thế nào cũng vui trả. Phải nhận lãnh sự đau đớn, khổ sở như là một vinh diệu, vì nó chứng tỏ rằng các Đức Nam Tào Bắc Đẩu thấy con đáng giúp đỡ. Dầu quả báo của con có nặng thế mấy đi nữa, con cũng phải cám ơn các Đấng Chí Tôn không cho con trả nhiều hơn cái đó. Hãy nhớ rằng : ngày nào mà quả xấu của con chưa tiêu hết, và con chưa thoát khỏi được nó thì ngày đó con chưa giúp ích cho Thầy bao nhiêu. Khi con hiến thân cho Thầy thì con xin nhồi quả cho con đặng làm sao trong một hai kiếp con trả sạch nhân quả của con, không vậy thì cả trăm kiếp nữa con trả mới hết. Tuy nhiên để thực hiện công việc trả quả tốt nhất, con phải vui vẻ và sẳn lòng đón nhận nghiệp quả.

 Còn một điểm khác nữa: Hãy diệt đi tất cả ý muốn sở hữu của con (thuộc về mình mãi mãi). Có lẽ nghiệp quả làm cho con mất đi những vật mà con quí chuộng hơn hết – thậm chí là những người mà con yêu thương nhất. Vậy thì con phải vui vẻ sẵn lòng chia lìa bất kỳ mọi người mọi vật. Thường thường Chơn Sư cần dùng học trò làm trung gian đặng sang thần lực cho kẻ khác. Nếu trò ngã lòng rủn chí thì Thầy không làm chi đặng. Bởi vậy an phận là quy tắc nhất định.
 

V.- Đi thẳng một đường tới mục đích   

 Có một điều con phải nhớ trước tiên là con làm công việc của Chơn Sư. Dầu có chuyện nào khác tới cho con đi nữa con cũng đừng bao giờ quên việc đó. Kỳ thật, không có việc gì khác tới được bởi vì các việc hữu ích và vô tư lợi đều là công việc của Chơn Sư, và con phải làm công việc ấy vì Ngài. Con phải đặt tất cả sự chú ý của con vào mỗi phần việc con làm cốt sao cho công việc ấy sẽ là phần tốt nhất của con. Cũng vị Đại huấn sư trên có viết câu nầy: “Dẫu làm việc chi cũng vậy, con phải làm thật hết lòng, như thể làm cho Đức Thượng Ðế chớ không phải làm cho con người”. Con hãy tự hỏi con phải làm công việc thế nào nếu con biết liền ngay đó Chơn Sư sẽ đến xem . Con phải nghĩ như vậy khi con làm tất cả công việc của con. Những người có kinh nghiệm nhất sẽ hiểu hết ý nghĩa của đoạn nầy. Nhưng còn một câu xưa hơn câu trước nữa mà cũng cùng một nghĩa : “Dẫu tay con làm việc nào cũng vậy, con cũng phải làm nó hết lòng, hết sức của con “.

Đi thẳng một đường tới mục đích cũng có nghĩa là khi con bước vào đường Đạo rồi thì không có chi làm con lìa bỏ Đạo được, dầu là trong giây phút. Ðừng để những sự cám dỗ, những cuộc vui vẻ của thế gian, những sự yêu thích dưới hồng trần làm con lạc bước. Bởi vì chính con với Đường Ðạo phải trở nên một. Đường Đạo tức là con. Con bước trên Ðường Đạo mà không cần nghĩ tới nó, và con cũng không thể rời nó được nữa. Con là Chơn Thần, con đã quyết định như vậy. Nếu con lìa bỏ nó tức là con lìa bỏ chính con vậy.

VI.- Lòng tin cậy  

Con phải có lòng tin cậy vào Chơn Sư mà con cũng phải tự tin nơi con nữa. Nếu con đã thấy Ngài rồi thì dầu đầu thai mấy kiếp đi nữa con cũng hết lòng tin cậy Ngài. Nếu như con chưa thấy Ngài, thì con phải rán tưởng tượng ra Ngài và hằng tin cậy Ngài, bằng không vậy Ngài không thể giúp được con. Nếu con chẳng hết lòng tin cậy thì từ ái và thần lực không thể nào truyền qua hoàn hảo được.

Con phải tự tin nữa. Con nói rằng con tự biết rõ con lắm ư ? Nếu con nghĩ như thế thì con không tự biết con đâu. Con chỉ biết cái vỏ mong manh ở ngoài thường lấm bùn. Còn con, thật con là một Điểm Linh Quang của Đức Thượng Ðế; và Đức Thượng Ðế pháp lực vô biên ở trong con, và vì vậy nếu con thật có ý chí thì không có chuyện nào mà con không làm đặng. Con hãy tự nói với chính con như vầy: “Ðiều nào con người đã làm rồi thì con người có thể làm được. Tôi là một con người mà cũng là Thượng Ðế ở trong con người nữa nên tôi có thể làm được điều này và tôi nhất định làm được.” Nếu con muốn bước vào Ðường Ðạo thì ý chí của con phải cứng như thép đã trui vậy.

THIÊN THỨ TƯ

     

LÒNG TỪ ÁI

 

Lòng Từ ái chia làm sáu điểm :

Một là :   Thoát kiếp luân hồi

Hai là :    Lòng từ ái trong sự sinh hoạt hằng ngày

Ba là :     Sự nói hành

Bốn là :   Điều hung ác

Năm là :  Thói dị đoan

Sáu là :    Phụng sự

I.- Thoát kiếp luân hồi. 

 Trong mấy điều kiện buộc phải có, thì lòng Từ ái trọng hệ hơn hết, bởi vì nếu một người có lòng từ ái đủ mạnh rồi thì lòng từ ái sẽ thúc đẩy người ấy khuất phục được những tánh còn lại, và những tánh còn lại không có lòng từ ái thì sẽ chẳng bao giờ được đầy đủ, trọn vẹn. Người ta thường giải thích rằng lòng từ ái như là ý muốn nhiệt liệt thoát khỏi vòng sanh tử và được hiệp nhứt với Thượng Đế (Phản bổn huờn nguyên). Song giảng như thế thì lòng từ ái dường như còn vị kỷ (nghĩ đến mình) và cắt nghĩa chỉ có một phần. Lòng từ ái còn hơn là ý muốn đó nhiều, ấy là ý chí, lòng quả quyết, sự quyết tâm. Muốn có kết quả thì sự quyết tâm này phải thấm nhuần lòng con cho tới chừng nào không còn chỗ chứa một tình ý nào khác nữa. Thực ra, đó là quyết chí hiệp nhứt với Đức Thượng Ðế không phải để tránh sự mệt nhọc và khổ não, nhưng vì lòng con yêu thương Ngài tha thiết mà con làm việc cùng với Ngài và làm y như Ngài vậy. Bởi Đức Thượng Ðế vốn Từ bi, nên nếu con muốn hiệp nhứt với Ngài thì con phải đầy lòng nhơn từ và hoàn toàn vị tha, chẳng hề có một mảy may gì tư lợi.

II.- Lòng từ ái trong sự sanh hoạt hằng ngày.  

Trong sự sinh hoạt hằng ngày, thì lòng từ ái có hai nghĩa ; một là : Con phải tránh cho khéo đừng làm sinh vật nào đau đớn; hai là : Con phải lừa dịp để giúp đỡ.

Trước hết, là đừng gây thiệt hại. Trên đời, có ba tội làm hại hơn mọi việc: thứ nhứt là chuyện nói hành, thứ nhì là điều hung ác, và thứ ba là thói mê tín dị đoan, bởi vì chúng là những tội chống lại lòng từ ái. Người nào muốn trong lòng chan chứa tình yêu thương của Thượng Ðế phải không ngừng canh chừng để tránh ba tội ấy.

III.- Sự nói hành (nói xấu kẻ khác). 

Con hãy xem coi sự nói hành làm hại là thể nào. Nó bắt đầu bằng một tư tưởng xấu, và chính tư tưởng xấu đó là một trọng tội rồi. Bởi vì trong mỗi người và mỗi vật đều có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta có thể tăng thêm sức mạnh cho sự tốt hay sự xấu khi ta nghĩ tới chúng nó, và làm như vậy ta có thể thúc giục hay là trì hoãn sự tiến hóa. Chúng ta có thể vâng lời Đức Thượng Ðế hay là chống lại Ngài. Nếu con nghĩ tới điều xấu của kẻ khác thì con đang làm ba việc ác độc một lượt.

Một là : Con sanh sản chung quanh chỗ con ở đầy những tư tưởng xấu xa thay vì những tư tưởng tốt lành, và như vậy thì con thêm điều khổ não cho đời.

Hai là : Nếu người đó thật có tánh xấu trong lòng như con nghĩ, thì con nuôi dưỡng tánh xấu đó và thêm sức mạnh cho nó. Vậy thì con làm cho bạn con trở nên xấu thêm thay vì trở nên tốt hơn. Nhưng thông thường người ta không có tánh xấu ấy, tại con chỉ tưởng tượng đó thôi; và rồi tư tưởng xấu của con đến xúi giục y làm quấy, vì thế, nếu bạn con chưa trọn lành thì con làm cho y thành giống in (hoặc là bỏ bớt in) như ý tưởng mà con đã nghĩ về y.

Ba là : Con sanh sản trong trí của riêng con đầy những tư tưởng xấu thay vì những tư tưởng tốt, như vậy, con trì hoãn sự tiến hóa của con và phô bày cho người có mắt thánh xem thấy một cảnh tượng rất xấu xa ,đau lòng, thay vì đẹp đẽ và dễ thương.

Sự nói hành không ngừng ở chỗ gây hại cho người nói hành và nạn nhân của hắn, mà sự nói hành còn cố thôi thúc người nói hành lôi kéo nhiều người khác dự phần vào tội ác của y. Người nói hành lật đật mang chuyện ác độc của y nói cho mấy người ấy và hi vọng rằng họ sẽ tin bằng thật. Rồi thì cả thảy xúm nhau lại rải một dọc tư tưởng xấu vô trí người bị nói hành đau khổ đáng thương kia. Ngày nầy qua ngày kia, cả ngàn người làm như vậy chớ không phải có một người mà thôi đâu. Bây giờ đây con bắt đầu thấy chuyện nói hành là một tội đê hèn và gớm ghiếc thế nào chưa ? Con phải hoàn toàn tránh nó. Con đừng nói xấu ai; con cũng đừng nghe người ta nói việc xấu của kẻ khác; và hãy bảo cho họ biết một cách êm ái như vầy : “Có lẽ việc đó không có thật. Mà dầu có thật, đừng nói đến mới thiệt có lòng nhơn từ hơn nữa”.

IV.- Điều hung ác. 

Còn sự hung ác thì có hai loại: một là cố ý ác; hai là vô ý ác. Cố ý ác là có ý làm cho một sinh vật đau đớn; tội này lớn nhất trong các tội; là công việc của ma quỉ làm chớ không phải của con người . Con sẽ nói rằng con người không ai làm điều như vậy. Nhưng mà có nhiều người đã thường làm ác; và còn đang làm hàng ngày nữa. Những vị pháp quan của tòa án tôn giáo thuở xưa [5] đã làm ác. Biết bao nhiêu người nhơn danh đạo mình mà làm ác. Những người giải phẩu sanh thể (mổ xẻ thú vật còn sống đặng học cách thực nghiệm) làm ác; nhiều vị giáo chức có thói quen làm ác lắm. Mấy vị đó kiếm thế bào chữa tánh tàn nhẫn của mình nên nói rằng : “Cái đó là tại tục lệ”. Nhưng không phải vì nhiều người đồng phạm một tội trọng mà tội trọng đó hết còn là một tội nữa. Quả báo không bỏ qua vì nó là tục lệ đâu; và nghiệp quả của của sự ác độc thì khủng khiếp nhất trong tất cả các tội. Ở Ấn Độ thì không thế nào chữa lỗi về tục lệ hung ác đó được, vì ai nấy đều biết bổn phận mình không nên làm cho con người hay loài vật đau khổ. Những kẻ nào viện cớ vì mục đích “thể thao” [6] mà ưa sát hại loài vật của Trời sanh ra thì sẽ bị nhận lãnh một số mạng ác nghiệt (do nghiệp quả của chính mình, phản hồi bởi luật nhân quả).

Thầy biết rằng con sẽ không làm như vậy được, và bởi vì lòng con thương Đức Thượng Ðế nên khi gặp dịp tức thì con sẽ biện minh để phản kháng ngay. Nhưng mà trong lời nói cũng có sự hung ác như trong việc làm. Người mà thốt ra một lời cố ý làm tổn thương người khác thì cũng phạm tội ác vậy. Điều đó con cũng sẽ không làm đâu. Nhưng thỉnh thoảng một lời nói bất cẩn cũng làm hại nhiều y như lời nói ác độc. Vậy con phải luôn xem chừng để tránh tội vô ý ác này.  

Sự vô ý ác này luôn luôn bắt nguồn từ sự thiếu suy nghĩ. Một người kia quá tham lam bỏn xẻn không hề nghĩ đến sự đau khổ của y gây ra cho người khác vì tiền công y trả cho họ hẹp hòi hay sự đau khổ vì đói rách của vợ con y do chính y gây ra. Một người khác chỉ nghĩ đến cuộc vui riêng của mình (thú vui nhục dục) và ít quan tâm tới biết bao linh hồn và thể xác đã vì sự thỏa mản của mình mà bị hủy hoại. Một người khác nữa muốn tránh một vài phút lôi thôi phiền phức nên đúng ngày mà không trả tiền công cho thợ thầy, và không thèm kể đến sự khó khăn mà những người ấy gánh chịu do sự trễ nải của y. Có biết bao sự đau đớn chính là do bởi tánh bất cẩn, thiếu suy nghĩ gây ra vì quên phứt rằng một hành động sẽ ảnh hưởng đến những người khác như thế nào. Mà con người dầu chẳng nhớ đi nữa, quả báo cũng không hề quên đâu. Nếu con muốn bước vào Ðường Ðạo, thì con phải nghĩ đến hậu quả của những gì mà con làm vì e rằng con sẽ vướng phải tội vô ý ác.

VI.- Thói mê tín dị đoan.  

Mê tín dị đoan là một mối hại rất lớn khác, nó sanh ra biết bao nhiêu sự hung ác rùng rợn. Người nào làm nô lệ cho nó rồi thì coi thường những người khôn ngoan hơn mình, và lại cố ép họ làm y như mình vậy. Hãy nghĩ đến sự tàn sát ghê gớm vì thói mê tín dị đoan đòi hỏi sự giết thú vật đặng cúng tế. Và cũng còn một thói dị đoan độc địa hơn nữa, đó là cho rằng con người cần ăn thịt mới sống được. Hãy nghĩ tới những điều đau khổ mà sự mê tín dị đoan đã gây ra cho các hạng dân bị áp chế ở nước Ấn Độ yêu quí của chúng ta, và hãy xem coi sự mê tín dị đoan nầy sanh ra biết bao nhiêu sự nhẫn tâm độc ác trong đám người đã biết tình huynh đệ rồi. Có nhiều tội ác mà con người đã nhân danh Thượng Ðế từ bi gây ra bởi sự xúi bẩy của cơn ác mộng về mê tín dị đoan này. Do đó hãy coi chừng kỹ lưỡng đừng để một mảy may mê tín dị đoan nào còn sót lại trong lòng con.

VI.- Phụng sự.  

Con phải tránh ba tội trọng nầy, chúng nó là những tội nghịch với lòng từ ái cho nên cản trở hết các sự tiến hóa. Nhưng con không phải chỉ tránh sự ác mà thôi; con còn phải cần mẫn làm việc lành mới được. Trong lòng con phải tràn ngập ý muốn nhiệt liệt phụng sự cho đến đỗi con luôn trông chừng để ra tay giúp đỡ hết thảy các loài ở chung quanh con, chẳng những là con người mà cho tới loài cầm thú và thảo mộc nữa. Con phải giúp đỡ qua những việc nhỏ mọn hằng ngày để tạo thói quen đặng sau này khi việc lớn đưa đến thì không bỏ lỡ những dịp hiếm có để phụng sự. Bởi vì nếu con chí quyết hiệp nhứt với Đức Thượng Ðế thì chẳng phải con muốn được phần con, mà để con thành một vận hà đem đức Từ ái của Ngài ban rải cho mấy anh em con.

Người nhập Ðạo rồi không sống cho riêng mình mà chỉ sống vì những kẻ khác thôi; y đã quên mình để có thể phụng sự người khác . Y là cây viết trong bàn tay Đức Thượng Ðế, nhờ đó tư tưởng của Ngài mới tuôn xuống trần gian, và nếu không có cây viết nầy thì tư tưởng của Ngài không thể phô diễn ra được. Ðồng thời y cũng là một ngọn đuốc linh động chiếu rọi khắp thế gian đức Từ bi của Thượng Đế chan chứa ở trong lòng y..

 Có minh triết con mới có thể giúp đời, còn ý chí để dắt dẫn sự minh triết, và từ ái lại gây ra ý chí. Ấy là những điều kiện mà con cần phải có. Ý chí, minh triết, từ ái là ba trạng thái của Ðức Thượng Ðế. Nếu con muốn hiến mình phụng sự Ngài, thì con phải biểu lộ ba trạng thái ấy trong thế gian này.

HẾT

 

I

Attendant la parole du Maître,

Guettant la lumière cachée,

Ecoutant pour saisir ses ordres,

Au milieu même de la bataille.

II

Attentif à son moindre signe,

Au dessus de l’immense foule,

Entandant son léger murmure,

A travers les chants bruyants de la terre.

I

Trông Thầy nhỏ phước phán lời lành.

Sáng ẩn, rình xem, bỏ lợi danh.

Lặng lẽ mong nghe Người hạ lịnh,

Quản bao giữa đám cạnh cùng tranh.

II

Chăm chăm trông dấu chốn linh đài,

Thoát tục mặc dầu thế mỉa mai.

Văng vẳng lời vàng Thầy khuyến thiện.

Ngoài tai rộn rả tiếng Trần ai.

   (Hai bài nầy vốn của ông Đốc Phủ LÊ THÀNH LONG Bà rịa thích nôm )

   Tôi lấy ý nghĩa tám câu chữ Pháp đặt ra một bài tứ tuyệt như vầy:

Đạo không rời bước chẳng lìa mình,

Chi sá phồn hoa cảnh sắc thinh,

Chăm chỉ xem qua từ nét dấu,

Nghe Thầy dạy dỗ chữ đinh ninh.
 

BẠCH LIÊN

ĐỀ THI

I

Không tham danh lợi khỏi ưu phiền,

Niệm chữ từ bi dứt nghiệp duyên.

Vớt kẻ trầm luân nơi khổ hải,

Noi theo tôn chỉ Hội Quần Tiên.

II

Phá đường mê tín vạch chông gai

Khó nhọc dường bao dạ chẳng nài.

Ðã nguyện thân phàm đem độ thế,

Bắc cầu cho kẻ đến Bồng Lai.


    BẠCH LIÊN

Chú Thích

[1] Năm 1911, Krishnamurti mới được 13 tuổi.

[2] Alcyone tức là Krishnamurti.

[1a] Thuận theo lẽ Trời hàm ý hiểu được Thiên Cơ (God’s plan), hiểu được sự ‘Tiến Hóa’ mà Thiên Cơ đã vạch định cho chúng sinh– không phải chỉ riêng cho loài người mà bao gồm cả vạn vật, thú vật, cây cỏ, và kim thạch.

[3] Có ba hạng đệ tử : 

a/ hạng mới nhập môn

b/ hạng đệ tử chánh thức

c/ hạng con của Thầy

[4] Djainistes. Người giữ đạo Djainistes khi xưa là một nhánh của Ấn giáo. Đạo nầy lấy sự hòa bình làm mục đích, coi bốn biển là anh em. 

[5] Nguyên văn là : Inquisiteurs. Inquisiteurs có một nghĩa nữa là : kẻ tra khảo. 

[6] Đi săn bắn

Tính giản dị  và tư tưởng Thiền học 

trong cuốn Dưới Chân Thầy

Như hải

Dưới Chân Thầy là một quyển sách thật nhỏ, nhưng đầy những tư tưởng lớn, những tư tưởng thiền học giúp mọi người sống thiền trong đời sống hàng ngày bằng những lời hướng dẫn giản dị nhất. Không một ngôn từ thiền học nhưng lại toát ra đầy những hương vị thiền học. Nó giản dị đến nỗi hầu như ai cũng có thể đọc được nó và cũng vì tính quá giản dị này cho nên nó cũng dễ bị người ta bỏ qua một bên vì cách đọc đầy thành kiến và định kiến ( người ta nghĩ rằng cái gì phức tạp mới chứa đựng được những điều uyên thâm). Sau đây tôi xin đưa ra hai đoạn văn , một giản dị trong cuốn Dưới Chân Thầy và một phức tạp trong những bài nói chuyện của ông Krishamurti nhưng cùng diễn đạt một tư tưởng để quí vị thấy được nét độc đáo của cuốn Dưới Chân Thầy, giản dị mà lại chứa đầy những tư tưởng thâm sâu.

“Duy có một điều ham muốn tốt hơn hết”

          ( Dưới Chân Thầy)

Tới đây cả thảy đều dễ, miễn con hiểu là đủ. Nhưng có một số người không chịu đeo đuổi những mục đích trần tục mà chỉ cốt mong được về nước Thiên đàng, hay đặng riêng mình thoát khỏi đọa Luân hồi. Con đừng phạm lỗi đó. Nếu con thật quên mình rồi, con đâu còn nhớ hỏi lấy chừng nào linh hồn con mới được giải thoát, hay là nữa rồi đây nó sẽ về ở cảnh Trời nào. Con hãy nhớ rằng mỗi việc ham muốn ích kỷ dầu mục đích cao cả thế mấy đi nữa cũng đều trói buộc (là một sợi dây xiềng xích), và ngày nào con không loại hết các điều ham muốn này thì ngày đó con chưa thật rảnh rang để hiến mình cho công việc của Chơn Sư.

“Khi những ham muốn thuộc phàm nhơn con tiêu mất rồi, cũng có thể còn một sự ham muốn là thấy đặng kết quả của công việc con làm. Nếu con giúp ai, con muốn biết con giúp người đó tới bực nào; có lẽ con cũng muốn cho người ấy hiểu con đã giúp họ tới cở nào và biết ơn con nữa. Mà cái nầy vẫn là một điều ham muốn, và cũng gọi là chẳng có lòng tin cậy. Khi con ra sức giúp, đương nhiên phải có kết quả, dẫu con thấy hay là không thấy cũng vậy. Nếu con thạo Luật Trời thì con biết rằng điều này phải như thế. Vậy thì con phải làm điều lành, bởi chưng ưa mến việc lành chớ chẳng phải trông mong được ban thưởng. Phải làm lụng vì chưng ưa mến sự làm lụng, chớ chẳng phải trông mong thấy cái kết quả. Con phải xả thân giúp đời vì con thương đời, và bởi con không làm thế nào khác nữa được.”

 

Tại Sao Chúng Ta Tìm Kiếm Danh Vọng

 (một trong những bài nói chuyện của ông Krishnamurti)

 

Có khi nào bạn nghĩ về điều này chưa? Tại sao chúng Ta muốn trở thành người nổi tiếng như nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, chính trị gia, ca sĩ, hoặc bất kỳ nhân vật nổi tiếng nào? Tại Sao vậy? Tại vì chúng ta không yêu thích những gì chúng ta đang làm. Nếu bạn yêu thích hát hay vẽ, hoặc làm thơ, bạn không màng tới ý tưởng bạn nổi tiếng hay không. (làm việc vì công việc- chú thích người viết)

Muốn trở thành nổi tiếng chỉ là điều tầm thường, lòe loẹt, ngu xuẩn, không nghĩa lý; tuy nhiên , bởi vì chúng ta không yêu thích, không hài lòng với những điều chúng ta làm, nên chúng ta muốn đánh bóng tiếng tăm của ḿnh.
 

Ngành giáo dục của chúng ta hiện nay đang suy đồi bởi vì nó dạy chúng ta yêu quí những thành công chứ không phải những gì chúng ta làm. Kết quả trở nên quan trọng hơn hành động. (trói buộc ở chỗ này, hành động có hậu ý- chú thích người viết)
 

Bạn nên biết rằng, điều tốt nhất là khi mình khiêm tốn, che giấu (những) tài hoa để chỉ là người vô danh, bạn yêu thích việc mình làm và không tỏ ý khoe khoang.

Quan trọng hơn nữa khi bạn không là nhân vật nổi tiếng, hình ảnh bạn không đăng trên báo. Các chính trị gia không đổ xô tới cửa nhà bạn .

Khi bạn chỉ là một người bình thường, ẩn danh, lại là lúc bạn qui tụ được tất cả những gì đẹp nhất, quí giá nhất và phong phú nhất

Qua hai đoạn văn trên, chúng ta đều thấy chúng cùng trình bày một tư tưởng thiền học. Làm sao để thoát khỏi sự trói buộc của hành động và trình bày những cách thức, những thủ thuật làm sao để thực hiện được điều ấy. Cả hai đều nhấn mạnh phải chú tâm vào công việc của mình đang làm, chìm mình vào công việc chớ đừng mắc vào sai lầm khi chú tâm vào kết quả của hành động, nó trói buộc con người. Có như thế hành giả mới an nhiên tự tại ngay trong mọi hành động ở cõi trần này,.

Dù hai đoạn văn trên cùng một tư tưởng nhưng về mặt hình thức, chúng được trình bày qua hai lối văn khác nhau. Dưới Chân Thầy được trình bày một cách giản dị, mộc mạc. Còn đoạn văn kia thì được trình bày phức tạp, khoa bảng hơn. Không phải ông Krishnamurti thích viết như vậy mà vì lối viết này đáp ứng được cho người dân thành thị hơn. Họ thích lý luận, văn chương một chút, triết học một chút và đôi khi lại phải có chút vị thiền. Đa số người dân thành thị có thành kiến thích đánh giá trị nội dung của tác phẩm qua những hình thức này (mốt thời thượng). Thật ra lối viết này giống như tấm bảng quảng cáo, tấm poster, bích chương để lôi cuốn người thành thị đi xem kịch hay xem hát mà thôi. Lối viết này thường bị giới hạn nhiều, chỉ đáp ứng cho một số người đọc. Còn lối viết giản dị thì đáp ứng được cho tất cả mọi người nhưng lại có khuyết điểm là dễ bị đánh giá lầm, dễ bị bỏ quên vì lối đọc đầy thành kiến.

Những tác phẩm viết theo lối giản dị dễ bị bỏ quên vì đa số coi thường cái vẽ bề ngoài của nó. Nhân đây tôi xin nêu một thí dụ. Tôi có một người bạn, học Văn Khoa, thiên về triết Đông Phương. Anh thấy tôi cứ đọc mãi có cuốn sách Dưới Chân Thầy. Một hôm anh ta cầm lên đọc. Vừa lướt qua phần Phân Biện, tế nhị, anh ta trả lại, không phê bình.

Anh bỏ xuống không đọc tiếp vì nó giản dị quá, không có một ngôn từ triết học, không một ngôn từ thiền học nào nằm trong đó. Hơn nữa lại nói về phân biện. Anh cho là đối đải mà không đọc tiếp. Vì có sẳn định kiến như vậy nên anh đã bỏ qua. Nhưng nếu đọc sách mà không có định kiến, có thể anh đã nhận diện ra đươc câu này ngay trong phần Phân Biện:

“Trên thế gian nầy chỉ có hai hạng người : những người  có hiểu biết và những người không hiểu biết; duy chỉ có sự hiểu biết mới là hệ trọng mà thôi.”

Những ai đă từng tìm hiểu về Phật học, về triết học Đông Phương đều biết về thế giới nhị nguyên, đối đải là mối trở ngại duy nhất mà người ta phải vượt qua hay nói một cách khác là làm sao thoát khỏi được chúng.

Câu trên, nếu suy nghĩ kỹ chúng ta thấy rằng nó mang đầy tính thiền học . Nó vạch cho người ta thấy sự đối đải ẩn tàng mà con người phải vượt qua, cặp nhị nguyên có và không : có hiểu biếtkhông hiểu biết. Chỉ có sự hiểu biết mới chính là bản thể của mình.

Cái hay của câu này là nó nằm trong phần phân biện. Nói theo triết học Phương Đông hay Thiền học thì ngay trong đối đải đã có giải thoát rồi.

 Và không chỉ có bấy nhiêu thôi, quí vị có thể tìm thấy nhiều điều lý thú khác nữa khi quí vị bình tâm đọc hết quyển sách nhỏ này. Vào đây quý vị sẽ thấy những công án nằm rãi rác khắp nơi và một điểm đăc sắc nữa là có luôn những phần giải thích đi đến thực hành công án đó. Nói như thế cũng chưa hết được cái hay của nó vì nó còn chứa cả một hệ thống tư tưởng được phối hợp một cách mạch lạc và khéo léo nhằm vào sự tiến hóa hoàn hảo của con người.

Nói tóm lại, Dưới Chân Thầy là một cuốn sách nhỏ được viết bằng những lời văn giản dị nhưng lại chứa đựng đầy những tư tưởng bất hủ, đầy những tư tưởng thiền học được viết theo lối thực hành hơn lý thuyết. Mong rằng quí vị sẽ nhặt ra được nhiều hạt kim cương chân lý ẩn tàng trong cuốn sách nhỏ bé này bằng cách đọc nó với tấm lòng không thành kiến, không định kiến. Những ai đã thưởng thức được hương vị ấy rồi thì có lẽ không bao giờ rời xa được cuốn sách nhỏ bé này.

                                                                                     Như Hải

TOÁT YẾU “DƯỚI CHƠN THẦY”

Tác giả  BẠCH LIÊN
1974

“DƯỚI CHƠN THẦY” DẠY ĐẠI ĐỊNH

Tầm Đạo là tìm những quyền năng biến đổi Con Người ra một vị Siêu Phàm, trước ngày giờ đã định sẵn cho nhơn loại trong Vũ trụ nầy, chớ không phải luyện tập những phép thần thông như sai thần, khiến quỉ, kêu mưa, hú gió, xuất vía, xuất hồn.

Quyền năng đó vốn ở trong mình con người. Ấy là Tâm Thức phát triển càng ngày càng thêm rộng lớn và cao siêu.

Muốn mở mang Tâm Thức thì trước nhứt phải lo Rửa Sạch Phàm Tâm, phải Tự Chủ, phải Khắc Kỷ, phải chế ngự ba Thể : Thân, Vía, Trí, phải Tinh Luyện chúng rồi lo Phụng Sự với Tấm Lòng Vị Tha.

“Dưới Chơn Thầy” là một quyển sách Đạo quí báu nhứt trên đời, khuôn khổ tuy nhỏ mà những lời dạy trong đó có một tầm mức quan trọng và rộng lớn vô cùng. Nó nói một chút ít về mặt lý thuyết, nhưng đề cập rất nhiều về phương diện thực hành. Nó chỉ cho các bạn đọc giả biết những điểm chánh liên quan với nhau và rất cần thiết cho sự tu tâm luyện tánh như sau đây:

1) – Trời có một cái Cơ mà Cơ đó là sự tiến hóa. Vậy thì Con Người sanh ra cõi Trần đặng tiến hóa.

2) –  Muốn tiến hóa phải dẹp những chướng ngại dựng lên đặng cản trở bước đường của Hành Giả.

3) – Những chướng ngại đó là những tánh xấu của ba Thể: Thân, Vía, Trí mà Phật Giáo gọi là Tam Độc: Tham, Sân, Si. Chúng là những ảo ảnh, án mắt Con Người không cho thấy sự thật.

4) – Phương pháp diệt trừ những chướng ngại là mỗi giờ, mỗi phút phải hết sức chú ý vào những Tư Tưởng, Ý Muốn, Lời Nói và Việc Làm đặng hướng dẫn chúng vào Con Đường Từ Thiện và Chơn Chánh hầu Phụng Sự được một cách Hữu Hiệu và Vô Tư Lợi.

5) – Thế thì “Dưới Chơn Thầy” dắt quí bạn đi từ chỗ “Định” đến chỗ “Đại Định” và “Sống Thiền” bằng cách Hành Động mà quí bạn không ngờ vực chút nào.

Nói một cách khác “Dưới Chơn Thầy” dạy quí bạn “Tu”  [1] ]trong Sự Hành Động ở giữa chốn Phồn Hoa Đô Hội, khỏi vào Chùa Tụng Kinh Niệm Phật.

6) – Có Hành Động quí bạn mới thấy rõ những chỗ khuyết điểm đặng bồi bổ, rồi lần lần trở nên khôn ngoan và cao thượng hơn trước.

7) – Như vậy “Đại Định” và “Sống Thiền” bằng sự Hành Động Khai Sáng cho quí bạn mau hơn là việc ngồi trầm tư mặc tưởng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần nửa giờ, cả năm như vậy mà chung cuộc không đem lại kết quả tốt đẹp như Hành Giả mong muốn.

Nói cho đúng lý, dầu cho đọc cả chục quyển “Thiền Luận” và “Tịnh” vài chục năm mà không tìm ra Mối, không biết Định Trí, không biết Tư Tưởng và Ý Muốn Không Tốt do đâu sanh ra và Phương Pháp Sửa Trị chúng thì cũng hoài công vô ích. Mới vừa ngồi xuống thì Tâm đã loạn động, nhớ Đông, nhớ Tây, muốn làm cái nầy, toan bỏ cái kia, hối tiếc những việc đã qua và lo nghĩ những điều sẽ tới, quên phứt vấn đề chánh phải giải quyết đây. Rốt cuộc có thâu thập được cái chi tốt đẹp đâu mà gọi là Ngộ.

Một vị La Hán có nói: “Ai thật hành đúng một trăm phần trăm những lời dạy trong quyển Dưới Chơn Thầy thì người đó sẽ là một vị Siêu Phàm”.

Không khác nào quyển “Thánh Ca Bhagavad Gita”, quyển “Dưới Chơn Thầy” dạy Karma Yoga, tức là Yoga của Con Đường Hành Động, những điều mà ai ai cũng có thể thật hành được, không nhiều thì ít, nếu cố gắng và bền chí.

Quả thật, trong chu kỳ nầy, tự chủ là một việc cực kỳ khó khăn, nhưng không phải là không thế làm đặng, nếu con người cương quyết. “Chí công mài sắt, chầy ngày nên kim”.

Cho hay, nếu Đắc Đạo thành Chánh Quả dễ như trở bàn tay, thì Ngôi vị Chơn Tiên không có giá trị gì hết.

TOÁT YẾU VỀ BỐN ĐỨC TÁNH

“Dưới Chơn Thầy” dạy chúng ta bốn điều sau đây:

Một là: Lánh Dữ.

Hai là: Làm Lành.

Ba là: Rửa Lòng cho Trong Sạch.

Bốn là: Phụng Sự với tánh cách Vô Tư Lợi.

4 ĐỨC TÁNH: PHÂN BIỆN, ĐOẠN TUYỆT, HẠNH KIỂM TỐT VÀ PHỤNG SỰ VÔ TƯ LỢI ĐỀU LIÊN QUAN MẬTTHIẾT VỚI NHAU.

1) – Về Đức Tánh Phân Biện.

Trước nhứt, Con Người phải Tự Biết Mình. Phải Biết Mình là Chơn Thần, chớ không phải là Xác Thân hữu hình, hữu hoại nầy và cũng phải biết Con Người xuống Trần đặng tiến hóa. Muốn tiến hóa phải thực hành đúng theo Thiên Cơ. Phải lánh dữ và làm lành. Mà muốn làm lành thì phải biết cái nào phải, cái nào quấy; cái nào tà, cái nào chánh; cái nào hữu ích nhiều, cái nào hữu ích ít. Tức là Phải Biết Phân Biện.

2) – Về Đức Tánh Đoạn Tuyệt.

Phân Biện được rồi mới tập dứt bỏ những cái giả tạm, những ý muốn đê tiện, thấp hèn, quyến rủ Con Người vào đường tội lỗi và buộc trói Con Người vào bánh xe Luân Hồi, từ kiếp nầy qua kiếp kia. Phải tìm Cái Vỉnh Viễn, Trường Tồn và loại ra những cái phù du, mộng ảo chỉ để dùng trong một kiếp người mà thôi.

Đây mới thật là Chơn Thành Đoạn Tuyệt.

3) – Về Hạnh Kiểm Tốt.

Phân Biện và Đoạn Tuyệt được rồi mới thấy: Muốn thành một người hoàn toàn thì Tâm và Trí phải mở mang đầy đủ một lượt với nhau. Tư Tưởng, Ý Muốn, Lời Nói và Việc Làm phải ở dưới quyền điều khiển của Con Người. Chúng phải hết sức Chơn Chánh và hướng về Con Đường Từ Thiện. Nói một cách khác là Hạnh Kiểm phải Thật Tốt.

4) – Về Đức Tánh Phụng Sự.

Có Hạnh Kiểm Tốt rồi mới Phụng Sự đắc lực và vô tư lợi.

Tất cả những hành động phải xây dựng hạnh phúc cho nhân loại.

NÓI TÓM LẠI

Muốn Phụng Sự đắc lực và vô tư lợi thì Hạnh Kiểm phải Thật Tốt.

Muốn cho Hạnh Kiểm Thật Tốt thì phải Đoạn Tuyệt những sự ham muốn quấy quá, thấp hèn.

Mà muốn Đoạn Tuyệt những sự ham muốn quấy quá, thấp hèn thì phải biết Phân Biện, tức là hiểu rõ cái nào dữ, cái nào lành; cái nào tà, cái nào chánh; cái nào hữu ích nhiều, cái nào hữu ích ít.

Sống theo những lời dạy trong quyển “Dưới Chơn Thầy” tức là cầm vận mạng của mình trong tay và tương lai sẽ được bảo đảm.

***

[1] Tục rằng :

NHỨT TU THỊ.

NHỊ TU NON.

rất đúng.

Lăn lóc với đời mà giữ lòng trong sạch, không bị Sắc, Tài, Danh, Lợi cám dỗ mới thật là Chơn Tu.

Trái lại, nếu chưa dập tắt lửa lòng mà ẩn mình nơi non cao động thẳm, không bị những sự thử thách khuấy rối thì rất ung dung, tự tại. Tu như vậy rất dễ, nhưng khi trở ra thành thị thì e cho sự vấp ngã sẽ khó tránh khỏi.

Advertisements